Hiểu rõ cốt lõi của nền kinh tế chỉ trong 15 phút

Nền kinh tế đóng vai trò rất quan trọng. Nó ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống hàng ngày của mỗi chúng ta, vì vậy chắc chắn chúng ta cần tìm hiểu về nó, thậm chí ở một mức độ cao. Khi bạn hiểu và nắm bắt sự vận hành của nền kinh tế, nhất là kinh tế vĩ mô thì bạn chủ động cho mình những kế hoạch, chiến lược và phòng ngừa rủi ro cho cá nhân mình hoặc doanh nghiệp. Trong bài viết này Alan Đức Nguyễn tóm tắt những khái niệm căn bản một cách đơn giản nhất. Trước hết chúng ta tìm hiểu 8 khái niệm dưới đây:

Tiểu sử Chuyên gia, Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu bậc trí giả nặng lòng với tổ quốc

Tập đoàn Vingroup – Biểu tượng của tinh thần Việt Nam

Tập đoàn Vingroup – Ban lãnh đạo và những công ty thành viên chủ chốt

Tập đoàn Vingroup – Thay đổi hay là chết?

Tổng quan kinh tế Việt Nam trong 30 năm qua

Phát triển cơ sở hạ tầng là động lực cho phát triển kinh tế Việt Nam

Bất động sản và ngành xây dựng Việt Nam đã sẵn sàng cất cánh?

Tiểu sử Mai Kiều Liên – Bà hoàng sữa tỷ đô của đế chế Vinamilk

Mua bán nhà đất Hà Nội trong ngõ cần lưu ý những kinh nghiệm xương máu

Tiểu sử Nghệ sĩ Jazz Saxophone Trần Mạnh Tuấn – Người trọn đời dành cho âm nhạc

Bất động sản thành phố Hồ Chí Minh khu vực Tây Bắc cất cánh cùng hạ tầng phát triển

Bạn có thể nghe bài viết này bằng cách bấm vào đây: Youtube

  1. Tín dụng – khoản tiền bạn nhận được và phải trả lại sau này – là yếu tố thúc đẩy nền kinh tế.
  2. Khi người tiêu dùng có nhiều tín dụng, họ chi tiêu nhiều hơn. Chi tiêu nhiều hơn mang lại thu nhập cho nhiều người hơn và người có thu nhập có thể nhận nhiều tín dụng hơn từ các tổ chức cho vay.
  3. Tín dụng cũng tạo ra nợ: số tiền đã vay phải được trả lại, vì vậy chi tiêu sau đó phải giảm xuống.
  4. Các chính phủ tăng và giảm lãi suất như một công cụ để kiểm soát nền kinh tế.
  5. Giá cả thị trường phụ thuộc vào cung và cầu. Cung tăng thì giá giảm. Cầu tăng thì giá tăng.
  6. Chi tiêu của người này là thu nhập của người khác
  7. Tiền là máu của nền kinh tế
  8. GDP là thước đo sức khỏe nền kinh tế

Nền kinh tế là một khu vực nơi hàng hóa được sản xuất, tiêu dùng và trao đổi. Bạn thường thấy khái niệm nền kinh tế được thảo luận ở cấp quốc gia. Các chuyên gia tài chính và chính trị gia thường đề cập đến nền kinh tế Hoa Kỳ, nền kinh tế Châu Âu, Nhật Bản và cả nền kinh tế Việt Nam…vv. Mặc dù vậy chúng ta lại nghiên cứu hoạt động kinh tế qua lăng kính toàn cầu bằng cách xem xét các hoạt động kinh tế của từng quốc gia.

Alan Đức Nguyễn trong bài viết này tóm tắt một cách cô đọng nhất nhưng vẫn đầy đủ ý để bạn có thể hiểu rõ nền kinh tế là như thế nào chỉ trong 10 phút.

Những ai tạo nên nền kinh tế?

Hãy bắt đầu với nền kinh tế ở quy mô vi mô trước. Xem nào, hàng ngày tất cả chúng ta đều tham gia vào nền kinh tế bằng cách mua, từ những thứ đơn giản nhất như thực phẩm, quần áo… đến những sản phẩm giá trị lớn như bất động sản, ô tô… và bán, có thể là bán những hàng hóa vật chất như tạp hóa, hàng ăn… hay bán sức lao động (làm việc để nhận tiền lương là bán sức lao động). Mỗi 1 quá trình mua và bán xẩy ra thì đó là 1 giao dịch. Nền kinh tế của mỗi quốc gia được hình thành từ toàn bộ các giao dịch đó. Các cá nhân, tổ chức, chính phủ và doanh nghiệp khác trên toàn thế giới cũng làm điều này trên ba khu vực của thị trường. Bao gồm: Khu vực sơ cấp, khu vực thứ cấp, khu vực cung cấp.

Khu vực sơ cấp: Những hoạt động liên quan đến việc khai thác tài nguyên thiên nhiên. Khu vực này bao gồm một số hoạt động như trồng trọt nông nghiệp, khai thác khoáng sản, tài nguyên…vv. Những vật liệu này sau đó được sử dụng trong khu vực thứ cấp.

Khu vực thứ cấp là khu vực chịu trách nhiệm chế tạo và sản xuất. Khu vực cung cấp bao gồm các dịch vụ từ kho bãi, vận tải, giao nhận, quảng bá sản phẩm đến phân phối tận tay người tiêu dùng.  

Nền kinh tế được đo lường như thế nào?

Để xác định sức khỏe của nền kinh tế phương pháp phổ biến nhất để làm điều này là sử dụng chỉ số GDP( Tổng Sản phẩm Quốc nội). Chỉ số này nhằm tính toán tổng giá trị của hàng hóa và dịch vụ được sản xuất tại một quốc gia trong một thời kỳ nhất định. GDP của mỗi quốc gia tăng có nghĩa là sản xuất, thu nhập và chi tiêu của quốc gia đó tăng lên. Ngược lại, GDP giảm cho thấy sản xuất, thu nhập và chi tiêu giảm. GDP là một chỉ số đáng tin cậy về nền kinh tế của một quốc gia

Tín dụng – Nợ – Lãi suất

Người cho vay và người đi vay

Trong nền kinh tế mọi thứ đều xoay quanh việc mua và bán. Hoạt động cho vay và đi vay rất cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế. Giả sử bạn đang có một số lượng tiền mặt nhàn rỗi và bạn muốn số tiền đó không nằm in một chỗ mà phải sinh ra lợi nhuận. Bạn không thích đầu tư trực tiếp vì lý do nào đó. Vậy thì bạn sẽ làm gì? Cho vay là phương án có vẻ hợp lý phải không? Gửi tiền vào ngân hàng chính là hình thức cho vay đó. Bạn lúc này là chủ nợ và ngân hàng là con nợ của bạn.Bên cạnh đó bạn còn lựa chọn khác là cho cá nhân hoặc tổ chức vay ( Không phải tổ chức tín dụng). Bạn cho vay số tiền đó cho những người cần vay nó. Ví dụ như người đang thiếu vốn để mua máy móc phục vụ hoạt động kinh doanh, hay mở thêm cửa hàng mới… Sau khi có thêm vốn khi họ mua máy móc, mở rộng kinh doanh… Sau đó họ hoàn trả số tiền vay cho bạn tùy theo thời gian hai bên thỏa thuận. Bạn đóng vai trò là người cho vay, và bên kia đóng vai trò là người đi vay.

Để thu lợi nhuận từ hoạt động cho vay, bạn thu một khoản phí từ việc cho vay số tiền của bạn. Ví dụ bạn cho người đi vay vay số tiền 1 tỷ đồng, bạn thu của họ phí cho vay  là 1% giá trị số tiền cho mỗi tháng, tương đương 10 triệu đồng/ 1 tháng và 120 triệu/1 năm. Khoản phí này được gọi là tiền lãi. Mức 1% là mức hợp lý và được chấp nhận rộng rãi.

Nói một cách khác, bên vay sẽ nợ bạn và phải trả cho bạn 10 triệu đồng mỗi tháng cho đến khi họ hoàn trả hết toàn bộ số tiền. Nếu số tiền được hoàn trả sau ba tháng, bạn sẽ nhận được 1 tỷ 30 triệu.

Tín dụng và Nợ

Khi cho vay số tiền đó, bạn là người tạo ra tín dụng. Khi bạn đi vay bạn là người nhận tín dụng, đồng nghĩa bạn là người tạo ra Nợ.Tín dụng đi kèm với nợ, tín dụng được tạo ra sẽ đồng thời nợ được sinh ra.

 Khi bạn cho vay, người khác nợ tiền bạn. Còn khi bạn đi vay, bạn nợ tiền người khác. Khoản nợ sẽ biến mất khi bạn hoàn trả toàn bộ khoản vay cùng với lãi suất hoặc người nợ bạn tất toán khoản vay cộng lãi cho bạn.

Ngân hàng và lãi suất

Ngân hàng chính là chủ nợ lớn nhất trong thế giới ngày nay. Ngân hàng là bên trung gian giữa người cho vay và người đi vay. Hiểu một cách khác: tổ chức tài chính, ngân hàng đảm nhận cả hai vai trò đi vay và cho vay. Ngân hàng thu chênh lệch lãi vay giữa người cho vay và người được vay để tạo ra lợi nhuận. Ví dụ: Ngân hàng trả lãi suất cho người gửi tiền 6%/1 năm, nhưng thu phí của người vay 12%/1 năm. 6% chênh lệch chính là doanh thu của ngân hàng.

Ngân hàng rất khuyến khích bạn cho họ vay tiền để vốn của họ tăng lên. Vốn càng nhiều họ càng cho vay được nhiều. Đương nhiên là lợi nhuận càng lớn và ngược lại. Khi nguồn cung tiền dồi dào thì lãi xuất sẽ có xu hướng giảm. Nhất là vào thời điểm giảm phát, có những quốc gia lãi suất tiền gửi bằng 0, thậm chí lãi suất âm, nghĩa là gửi tiền vào còn mất phí tiền gửi. Khi nguồn cung tiền khan hiếm lãi suất sẽ tăng. Khi nhu cầu về vốn tăng nhưng nguồn cung vốn giảm thì lãi suất có xu hướng tăng.

Tầm quan trọng của tín dụng

Tín dụng là chất kích thích cho động lực phát triển của mọi nền kinh tế. Tín dụng cho phép các cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ chi tiêu một khoản tiền lớn hơn số tiền họ có. Do chi tiêu của này là thu nhập của người khác nên chi tiêu tăng có nghĩa là thu nhập tăng. Chi tiêu tăng là dấu hiệu của một nền kinh tế đang phát triển mạnh.

Nếu mọi người chi tiêu nhiều tiền hơn, sẽ có nhiều người nhận được thu nhập hơn. Các ngân hàng có xu hướng cho những người có thu nhập cao hơn vay tiền, đây là phương pháp rót vốn từ cao xuống thấp. Với nhiều tín dụng hơn, mọi người có thể chi tiêu nhiều hơn. Điều đó giúp nhiều người nhận được thu nhập hơn, và nó tạo thành 1 chu kỳ.

Nhiều thu nhập hơn → nhiều tín dụng hơn → nhiều chi tiêu hơn → nhiều thu nhập hơn.

Chúng ta gọi đây là chu kỳ của nền kinh tế

Chu kỳ này không tồn tại vĩnh cửu, đừng lạc quan như vậy. Khi bạn vay 1 tỷ đồng hôm nay, bạn phải trả nhiều hơn 1 tỷ đồng trong tương lai. Do đó bạn tạm thời tăng chi tiêu của mình hiện tại nhưng cuối cùng bạn sẽ phải giảm chi tiêu để trả nợ. Chu kỳ này tự lặp lại trong khoảng thời gian 5-8 năm. Đó là những chu kỳ ngắn. Nếu không có tín dụng, chúng ta sẽ không có chu kỳ nào cả mà chỉ có duy nhất sản xuất để phát triển nền kinh tế.

Rõ ràng nhờ tín dụng, thu nhập tăng nhanh hơn năng suất lao động. Điều này giúp đầu chu kỳ nền kinh tế phát triển nhanh hơn, mở rộng quy mô nhanh hơn. Đến cuối chu kỳ, khi đến thời điểm đáo hạn nợ thì đà tăng trưởng dừng lại và dẫn đến sự thu hẹp của nền kinh tế. Trong giai đoạn cuối chu kỳ, khả năng cung cấp tín dụng giảm do hậu quả của “sự bùng nổ” ban đầu. Nguồn cung tiền giảm vì tiền không phải vô tận, dẫn đến việc vay vốn trở nên khó khăn hơn. Lúc này lạm phát xuất hiện.

Lạm phát – giảm phát

Lạm phát

Khi mọi người đều nhận tín dụng. Họ mua được nhiều hơn số tiền họ có. Vấn đề ở đây là: mặc dù chi tiêu gia tăng thì sản xuất lại không tăng. Lúc này lượng cung hàng hóa và dịch vụ không tăng nhưng ngược lại cầu thì tăng.

Lạm phát lúc này xuất hiện: Bạn bắt đầu nhận thấy giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng lên thậm chí là hàng ngày. Chỉ số để đo lường lạm phát là CPI – Chỉ số giá tiêu dùng. Chỉ số này theo dõi biến động giá của hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng theo kỳ thời gian.

Giảm phát

Giảm phát là hiện tượng ngược lại với lạm phát. Đó là sự sụt giảm của giá cả nói chung. Do lượng tiền trong nền kinh tế giảm dẫn đến giảm chi tiêu. Bởi vì người tiêu dùng chi tiêu ít hơn nên giảm phát sẽ dẫn đến suy thoái.

Tương tự lạm phát, giảm phát có thể được đo lường thông qua CPI – Chỉ số giá tiêu dùng.

Sự kiểm soát của ngân hàng trung ương

Các ngân hàng mà chúng tôi mô tả trước đó thường là các ngân hàng thương mại – họ phục vụ chủ yếu cho các cá nhân và doanh nghiệp. Khác với ngân hàng thương mại, ngân hàng trung ương là cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm quản lý chính sách tiền tệ  quốc gia. Các ngân hàng trung ương bao gồm tổ chức tài chính như Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ, Ngân hàng Anh, Ngân hàng Nhật Bản và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngân hàng trung ương có các chức năng là bơm thêm tiền hoặc hút tiền từ nền kinh tế về và kiểm soát lãi suất.

Các ngân hàng trung ương tăng lãi suất khi lạm phát vượt khỏi tầm kiểm soát. Khi lãi suất tăng, tiền lãi phải trả cao hơn, do đó, việc vay nợ trở nên rủi ro. Cùng với đó làm người đi vay chùn tay khi quyết định vay. Dẫn đến giảm phát triển. Khi đó nhu cầu giảm đi, chi tiêu ít hơn, giá cả sẽ lại giảm xuống. Nếu lạm dụng việc tăng lãi suất có thể sẽ gây hiệu ứng ngược là giảm phát. Hầu hết sau khi điều chỉnh thì nền kinh tế sẽ bị các hiệu ứng tiêu cực trong một thời ngắn mới quay trở lại bình thường. Đó được gọi là độ trễ.

Bong bóng kinh tế

 Vào cuối mỗi chu kỳ, nợ sẽ tăng lên. Cuối cùng, khoản nợ trở nên không thể quản lý được, gây ra tình trạng vỡ nợ.

Khi vỡ nợ thì tín dụng sẽ cạn kiệt và thu nhập bắt đầu giảm. Lúc này người vay nợ tìm cách bán tài sản của mình để trả nợ. Nhưng khi quá nhiều người làm việc đó cùng một lúc, giá tài sản sẽ giảm do nguồn cung tăng.

Giai đoạn này, ngân hàng trung ương sẽ không thể giảm lãi suất để giảm bớt gánh nặng nếu chúng đã ở mức 0%. Nếu họ làm điều đó, lãi suất sẽ rơi xuống mức âm khiến tình hình càng trầm trọng. Đó là không ai gửi tiền vào ngân hàng nữa, thậm chí họ đua nhau rút hết tiền về. Hệ thống ngân hàng sẽ sụp đổ.

Vậy phải làm như thế nao? Có thể là giảm chi tiêu và xóa nợ. Tuy nhiên, những điều này lại mang đến những vấn đề khác: chi tiêu giảm có nghĩa là doanh nghiệp không bán được nhiều hàng hóa. Đồng nghĩa với việc thu nhập của mọi người sẽ giảm. Doanh nghiệp sẽ cần phải cắt giảm sản xuất, sa thải lực lượng lao động, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.

Luc này thu nhập thấp hơn do sản xuất bị thu hẹp. Mà như vậy thì chính phủ không thể thu được nhiều thuế. Đồng thời, chính phủ sẽ cần phải chi tiêu nhiều hơn để cung cấp cho số lượng người thất nghiệp ngày càng tăng. Khi chính phủ chi tiêu nhiều hơn số tiền thu được, chính phủ sẽ bị thâm hụt ngân sách.

Một cách nữa là bắt đầu in tiền. Với số tiền đó, chính phủ sử dụng để kích thích nền kinh tế. Nhưng điều này cũng có thể dẫn đến các vấn đề. In tiền lại gây ra lạm phát vì nó làm tăng cung tiền. Đây là một “hố đen” dẫn đến siêu lam phát

Siêu lạm phát 

Siêu lạm phát là tình trạng lạm phát cao, có tác động phá hoại nền kinh tế nghiêm trọng. Thông thường, tốc độ tăng giá ở mức 3 con số thì gọi là siêu lạm phát. Khi có siêu lạm phát, tiền mất giá nghiêm trọng. Zimbabue là quốc gia có siêu lạm phát khủng khiếp nhất, vào năm 2000 lạm phát lên đến 300.000.000%.

 Khi lạm phát tăng nhanh đến mức phá hủy giá trị của đồng tiền sẽ dẫn đến thảm họa kinh tế.

Khi so sánh với các chu kỳ ngắn hạn, chu kỳ nợ dài hạn diễn ra trong một khung thời gian dài hơn nhiều, khoảng 50 đến 75 năm.

Xâu chuỗi tất cả các vấn đề

khi có nhiều tín dụng, nền kinh tế bùng nổ. Khi có ít tín dụng hơn, nền kinh tế thu hẹp. Các sự kiện này xen kẽ nhau để tạo ra các chu kỳ nợ ngắn hạn, và các chu kỳ nợ ngắn hạn này tạo thành chu kỳ nợ dài hạn.

Lãi suất ảnh hưởng nhiều đến hành vi của những người tham gia vào nền kinh tế. Khi lãi suất ở mức cao, việc tiết kiệm trở nên có ý nghĩa hơn, vì chi tiêu không phải là ưu tiên nhiều. Khi lãi suất giảm, chi tiêu và đầu tư là quyết định hợp lý hơn.

Kết luận

Cỗ máy của kinh tế quá lớn, rất khó để hiểu hết tất cả các thành phần của nó. Tuy nhiên, Alan Đức Nguyễn cố gắng đơn giản hóa tối đa để bạn hình dung toàn bộ nền kinh tế một cách rõ ràng nhất.

Hy vọng những kiến thức trên hữu ích với bạn. Nhất là những người là chủ doanh nghiệp, nhà kinh doanh, hoặc người đầu tư chứng khoán… Các bạn sẽ quan sát chỉ số GDP, CPI, lãi suất ngân hàng để đo lường sức khỏe của nền kinh tế. Từ đó có kế hoạch cho công việc kinh doanh hoặc đầu tư của mình một cách hiệu quả.

Trân trọng

Alan Đức Nguyễn chuyên gia bất động sản

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.